Bốn bao than dựng ở tiệm đầu chợ, giá chênh nhau mấy lần, mà bao nào cũng nướng được. Chỗ khác nhau nằm ở việc bạn định làm chiều nay, nên bài này gọi tên loại than hợp nhứt cho từng việc, kèm bảng so bảy loại và bốn cách thử than ngay tại nhà.
Bốn giờ chiều, tiệm than đầu chợ dựng bốn cái bao dựa vô vách. Bao thứ nhứt đựng mấy cục đen to bằng cổ tay, khách bốc lên gõ vô nhau nghe cạch cạch. Bao kế bên đựng mấy thanh dài đều tăm tắp, giữa thanh có một lỗ tròn chạy suốt. Bao thứ ba đựng viên tròn dẹp cỡ đồng xu, bao cuối đựng mấy khúc trắng bạc gõ nghe leng keng như gõ vô sắt. Hỏi chú bán bao nào nướng ngon, chú nói cái nào cũng nướng được.
Chú nói không sai. Cục than ít khi quyết định món ngon dở, nó quyết định buổi nướng của bạn dễ hay cực. Muốn biết bao nào hợp thì phải biết chiều nay bạn định làm gì với cái lò.
Bốn bao đó khác nhau ở chỗ cái lò hầm dừng lại lúc nào
Ở Cà Mau, thợ chất củi đước tươi vô lò gạch hình bầu như nón úp, bịt cửa, đốt mồi chừng một tháng, rồi bịt luôn lỗ khói và để nguội hai chục ngày mới moi than ra. Suốt mẻ đó không ai cắm nhiệt kế, thợ nhìn màu khói với ngửi mùi khói mà biết lò sống hay chết. Thứ quyết định cục than nằm trong bao chính là chỗ lò dừng lại: hầm càng nóng thì chất bốc, tức phần bay hơi còn kẹt trong ruột than, càng bay đi hết, mà than thu về càng ít. Dừng dưới 400°C thì chất bốc còn chừng 30%, đẩy lên 500°C chỉ còn chừng 13%, đổi lại chỗ than moi ra hụt đi non một phần tư [2].
Người thợ đứng giữa hai cái muốn ngược nhau, và phần đông chọn bên nặng cân. Cuốn sách của Toàn quyền Đông Dương in năm 1939 nói thẳng, rằng thợ than cố ý không hầm tới nơi cho than nặng ký, lại còn để than ngậm nước và lẫn đất đá cho đủ cân. Cầm cục than lên tay thì bạn không thấy chất bốc đâu hết. Nhóm lên mới thấy, cục nào bắt lửa nhanh, cháy có ngọn và bốc khói xám thì cục đó còn nhiều chất bốc.
Hầm xong, cục than vẫn giữ nguyên bộ ruột của khúc gỗ, nên gỗ nào cho than nấy: thông lỗ to vách mỏng thì than bắt lửa nhanh mà cháy hết cũng mau, còn sồi, dẻ, đước vách dày lỗ nhỏ thì than cháy chậm và giữ được mức nhiệt đều. Thợ rèn bên Nhật rèn kiếm bằng than thông, còn quầy yakitori thì xài than gỗ cứng. Hiệp hội Nhiên liệu Toàn quốc bên Nhật chốt một câu đáng dán trước tiệm than: không loại than nào vừa bắt lửa nhanh vừa giữ lửa lâu, vì hai cái đó là hai mặt của một tính chất.
Muốn lửa gắt táp mặt miếng thịt thì bạn cầm cục than nặng tay
Miếng bò dày ba phân cần lửa gắt táp mặt vài chục giây rồi thôi, con tôm con mực với xâu thịt nhỏ cũng vậy. Than đước làm việc này gọn nhứt, và cái lý nằm trong khúc gỗ: đước thuộc nhóm cây nặng nhứt trong đám đem hầm than, gỗ đặc mà tro lại ít. Cục nhỏ mà chứa nhiều chất cháy, nướng xong mặt thịt cũng không dính lớp bụi trắng.
Chuyện chuộng than đước không mới. Số 790 của An Hà nhựt báo ra ngày 5 tháng Giêng năm 1933 có một mục dạy bếp núc, dạy làm đồ chay bằng cùi mít gói lá vông đem nướng, và người viết ký tên Thanh Lương dặn: "phải cẩn thận coi chừng lửa than cho thiệt đều và đừng có khói mới được. Nếu có được than đước, thì nướng tiện hơn và khỏi sợ hôi khói" [7]. Chín chục năm trước, người ta mua than đước vì nó không ám mùi khói lên món, chớ không phải vì nó nóng hơn.
Chỗ này phải nói thật, dù nói ra chẳng lợi gì cho người bán than đước. Sách 1939 chép bảng đo của ông Maurand: cùng một ste củi thì đước cho 300 ký than còn vẹt chỉ cho 180 tới 200 ký, ngặt nhiệt trị đo được thì vẹt lại cao hơn đước [3]. Vậy đước hơn vẹt ở sản lượng và ở chỗ cục than nặng chắc, chớ không phải ở chỗ nóng hơn. Ngoài chợ hay nghe câu than đước nhiệt trị cao nhứt, câu đó nói ngược chính cái bảng này. Cũng cuốn sách đó chấm than của mấy lò Cà Mau hồi đó là "chất lượng rất tầm thường", chê thẳng chớ không nể nang gì.
Than tràm thì có lai lịch dài hơn người ta tưởng. Đại Nam quấc âm tự vị in năm 1896 xếp hạng than của người Nam Kỳ ngay trong mục "than", và chép rằng than cây tràm nóng lắm, chính là than rèn. Hồi đó tràm là than của lò rèn chớ không phải hàng hạng hai. Bây giờ thì khác, vì ở chợ tràm miệt U Minh, cây tràm đi làm cừ, cất nhà và làm hàng thủ công trước, phần thừa mới đưa vô lò hầm than. Chưa ai đo nhiệt trị của than tràm, nên mua nó là mua bằng tay bằng mắt.
Quầy xiên chạy từ trưa tới khuya mới tới lượt than trắng, thứ người mình quen kêu theo tên Nhật là binchotan. Gỗ ubame nằm trong lò đá cả tuần lễ mới ra được một mẻ, mà đống gỗ bỏ vô bao nhiêu thì than moi ra chỉ còn lại một phần nhỏ, nên nó mắc là phải. Thứ bạn mua bằng số tiền đó là cái đều: bốc một nắm bỏ vô lò thì cục nào cháy như cục nào, khỏi lo góc vỉ này chín trước góc vỉ kia.
Thứ bạn không mua được là nhiệt. Quy cách nghề bên Nhật đòi than trắng và binchotan từ 6.800 kcal trở lên mà than đen lại đòi từ 7.000, tức hàng mắc có cái sàn còn thấp hơn sàn hàng rẻ [12]. Còn cái mốc 700°C người ta hay gán riêng cho binchotan thì bên đó nói là chuyện chung của mọi bếp than, không quạt thì nhiệt nằm thấp hơn nhiều, có quạt mới lên tới đó. Cây quạt trong tay bạn quyết định nhiều hơn cái nhãn trên bao than.
Món nằm trong lò cả buổi thì than chỉ giữ nền, mùi để khúc củi lo
Sườn tảng với vai heo xé nằm trong lò sáu tới mười mấy tiếng, ở mức 110 tới 130°C. Ở kiểu nướng này cục than không đi kiếm mùi, nó chỉ giữ cho nền nhiệt đừng tụt, còn mùi khói tới từ khúc củi mà bạn bỏ thêm lên nền than đỏ. Hỏi hiệp hội bán than bên Nhật rằng than trắng cao cấp có làm món thơm hơn không, họ đáp là người ta cho mùi thơm đó tới từ mỡ và nước sốt rơi xuống than đang cháy rồi hoá khói bám ngược lên thức ăn, còn loại than khác nhau có làm mùi khác nhau hay không thì họ nói không tìm thấy nghiên cứu nào [5].
Vậy chọn than cho món nấu chậm gọn lại còn ba điều: cháy lâu, tro ít, đừng nổ. Than đước cục lớn với than mùn cưa ép đều làm được, mà mùn cưa ép tiện hơn vì thanh nào cũng dài bằng nhau, xếp kín hộc than là khỏi lựa. Riêng chuyện nổ thì bạn đừng bốc than lạnh bỏ thẳng vô lửa, cứ xếp mấy cục sắp châm gần mép lò cho ấm đã, vì nước kẹt trong lỗ nhỏ gặp nung đột ngột là nở ra làm vỡ cục than.
Nướng trong nhà thì bạn mở cửa trước, rồi mới tính tới than
Sáng 16 tháng 12 năm 2024, Trung tâm Y tế Thạch Hà ở Hà Tĩnh cấp cứu bốn người trong một nhà, có đứa nhỏ sáu tuổi và một bé mới mười ngày tuổi. Tối trước, người chồng đốt than hoa bỏ vô cái nồi đất, đặt trong phòng ngủ rồi đóng cửa đi ngủ. Sở Y tế tỉnh ghi thêm một câu nặng hơn cả ca đó, rằng hằng năm tới mùa lạnh, Hà Tĩnh ghi nhận nhiều ca ngạt khí CO do đốt than sưởi ấm, nặng thì tử vong [14].
Đó là chuyện đốt than sưởi trong phòng kín chớ không phải chuyện nướng, ngặt cái lý thì chung một mối: than cháy sinh khí CO, mà CO không màu không mùi nên không ai hay. Nướng trong nhà thì bạn mở cửa, mở cửa sổ, bật quạt hút, và hiệp hội bên Nhật khuyên cứ mỗi tiếng thay khí trong phòng vài lượt.
Chọn than thì than ít chất bốc sẽ ít khói, và hai loại rẻ nhứt ngoài tiệm lại nằm đúng nhóm đó. Gáo dừa hầm kỹ cho phần carbon cố định vô hạng cao nhứt mà tro thì gần như không đáng kể, đổi lại than thu về chỉ còn một phần tư. Còn than mùn cưa ép thì người ta ép đùn mùn cưa thành thanh dài có lỗ giữa rồi mới đem hầm.
Hai thứ đó rẻ vì nguyên liệu vốn là đồ bỏ, cái gáo còn lại sau khi lấy cơm dừa và mùn cưa quét dưới gầm máy cưa. Còn người hầm than đước phải chờ đợt khai thác rừng rồi đấu giá mới mua được củi, nên giá than đước đi theo lịch của rừng chớ không theo thị trường than.
Còn than tre thì phải nói ngược lại lời đồn. Một nhóm làm bốn loại than rồi đem nướng thịt heo và đo mười sáu chất PAH, thì than tre cho tới 265,75 µg mỗi ký thịt, cao hơn cả than nhiệt độ thấp thường gặp và bỏ xa hai loại còn lại [18]. Tro của nó cũng có mẫu vượt luôn cái ngưỡng mà tiêu chuẩn châu Âu đặt cho than cục. Tre mọc nhanh, chuyện đó thật, còn chuyện tre cho than sạch hơn thì hai phép đo trên nói ngược lại.
Mà phải nói cho đúng mức, kẻo bạn đổi than xong rồi ngồi yên tâm. Một thí nghiệm ở Thổ Nhĩ Kỳ thử bảy loại than trên hai món bò, thấy trên bít tết nguyên miếng cả bảy nằm sát nhau, mà qua món chả bò băm nhiều mỡ thì cùng một loại than cho PAH cao gấp hai tới tám lần, riêng loại ép đùn pha bari nitrat vọt lên cao nhứt bảng [21]. Miếng thịt bạn đặt lên vỉ quyết định nhiều ngang cục than nằm dưới. Nhóm than xong thì cứ đi làm việc khác chừng mười lăm phút, vì phát thải cao nhứt rơi vô quãng đầu sau khi mồi lửa.
Quán nướng đếm than bằng lần châm, không đếm bằng ký
Chủ quán không hỏi than nào ngon. Chủ quán hỏi một bao chạy được mấy bàn, giữa buổi phải châm mấy lần, cuối buổi dọn mấy khay tro. Ở ba câu hỏi đó thì than nén và mùn cưa ép ăn điểm, vì thanh nào cũng như thanh nào, cháy được lâu hơn than cục và ít tro, đổi lại nhiệt không lên gắt bằng. Bên Nhật bây giờ than mùn cưa ép làm ra nhiều gấp đôi than trắng.
Ngặt than nén có một chỗ bạn phải coi kỹ. Tiêu chuẩn châu Âu đặt cửa cho than nén dễ hơn hẳn than cục, cả carbon cố định lẫn tro đều nới tay; rồi khi soi kính hiển vi 74 sản phẩm bán ở bảy nước, đa số không đạt nổi ngưỡng tạp chất, có mẫu tới 26,6% gồm cả than đá, kim loại, gỉ sét và keo [20][22]. Mua sỉ thì bạn xé một bao đổ xuống nền coi trước khi ký đơn.
Còn giá thì tuỳ mùa tuỳ nguồn củi: than đước Cà Mau bán sỉ 8.000 tới 10.000 đồng một ký hồi giữa năm 2024, còn bài báo đầu năm 2026 ghi 10.000 tới 14.000 đồng mà không nói rõ sỉ hay lẻ [25][1]. Tính giá món cho cả năm thì bạn nhớ chừa một khoảng cho nó nhúc nhích.
Bảy loại than xếp cạnh nhau
Bảng dưới gom lại chỗ mạnh chỗ yếu của từng loại. Bạn đọc cột cuối trước, tức đọc theo việc mình hay làm nhứt, rồi ngó ngược lên mấy cột kia.
| Loại than | Làm từ gì | Chỗ mạnh | Chỗ yếu | Hợp việc nào |
|---|---|---|---|---|
| Than đước | Gỗ đước rừng ngập mặn miền Tây, hầm lò gạch cả tháng | Cục nặng chắc, tro ít nên thịt sạch mặt, giữ lửa lâu | Mắc hơn than tạp, hàng chợ hay ngậm nước, lẫn đất đá | Nướng trực tiếp, món dày, quán chạy suốt buổi |
| Than tràm và cây rừng còn lại | Phần thừa của cây tràm, thêm vẹt, dà, cóc | Rẻ, sẵn hàng ở miền Tây, đủ cho bữa nướng nhà | Chưa ai đo than tràm, chất lượng tuỳ mẻ tuỳ người bán | Nướng nhà, nướng ít, việc không cần lửa kéo dài |
| Than gáo dừa | Gáo trái dừa đem hầm, thường ép lại thành viên | Tro rất ít, carbon cố định cao, viên đều, đổ bếp bàn là khít | Mồi lâu, viên nhỏ mau tàn, loại ép phải coi chất kết dính | Lẩu nướng trong nhà, bếp bàn, quán nhỏ |
| Than mùn cưa ép | Mùn cưa ép đùn thành thanh có lỗ giữa rồi mới hầm | Thanh nào cũng như thanh nào, cháy lâu, tro ít, khỏi lựa | Mồi khó hơn than cục, nhiệt lên chậm lúc đầu buổi | Quán, bếp bàn, việc cần lửa đều tay suốt buổi |
| Than nén thành viên | Bột than trộn chất kết dính rồi ép khuôn | Rẻ, viên đều, cháy lâu | Cửa tiêu chuẩn dễ hơn than cục, tro nhiều, loại pha nitrat cho PAH cao hẳn | Nên tránh với thịt nhiều mỡ và thịt băm |
| Than trắng, binchotan | Gỗ cứng hầm từ 800°C trở lên, moi ra rồi phủ bột dập lửa | Cục nào cũng như cục nào, lửa ổn định hàng tiếng, ít khói | Mắc, khó mồi, một mẻ tám ngày mà chỉ ra chừng 11% than | Quầy xiên, yakitori, lươn nướng, chỗ cần lửa thiệt đều |
| Than tre | Thân tre đem hầm, có loại ép thành bánh | Nhẹ, mồi nhanh, cây nguyên liệu mọc lại nhanh | Carbon cố định thấp hơn than gỗ, tro có mẫu tới 10,8%, nghiên cứu duy nhứt đo được cho PAH cao nhứt bảng | Chưa có lý do để chọn khi nướng thịt |
Mua than về, bạn thử bốn cái trước khi nhóm lò
Xé bao ra rồi thì có bốn việc làm được trong năm phút, khỏi cần máy móc. Ba việc đầu là mấy dấu mà hiệp hội nghề than bên Nhật vẫn dùng để phân loại: than trắng thì không còn vỏ cây, gõ kêu tiếng kim loại, mặt bẻ ít vết nứt và có ánh; than đen thì vỏ còn dính, gõ kêu tiếng đục như gõ vô đồ gốm, mặt bẻ nhiều vết nứt và dễ vỡ vụn. Ba dấu đó cho bạn biết mình đang cầm loại nào, chưa nói được hàng tốt hay hàng dạt.
Việc thứ tư mới là việc chấm điểm, và nó nằm trong một chú thích chân trang của cuốn sách 1939. Đặt một cục than lên bếp đang hồng, than khô và hầm tới nơi thì không bốc lấy một sợi khói, còn cục nào vừa bỏ lên đã thấy khói xám thì cục đó còn chất bốc, còn ẩm, hoặc cả hai. Cũng cuốn đó ghi một câu gọn lỏn, rằng độ ẩm thay đổi theo người bán, và bốn mẫu mua ở cùng một chỗ ngậm nước gấp đôi bốn mẫu cùng hạng mua chỗ khác.
Còn đọc chữ trên bao thì đọc được ít lắm. Than gỗ, than hoa và than gáo dừa chưa có tiêu chuẩn Việt Nam nào, mà luật ghi nhãn chỉ buộc ghi tên hàng, tên và địa chỉ người chịu trách nhiệm, xuất xứ, cộng phần định lượng, chớ không đòi loài cây hay nơi hầm than [26][27]. Bên Nhật thì quy cách nghề bắt ghi cả hai thứ đó lên bao, ngặt bên đó là quy cách tự nguyện chớ không phải luật. Vậy ở xứ mình, hỏi miệng người bán cây gì hầm ở đâu vẫn nhanh hơn đọc bao.
Chú bán than cột miệng bao, kê lên cân, rồi phụ khiêng ra xe. Về nhà bạn đổ ra thau, gõ thử vài cục, bỏ một cục lên bếp coi có khói không, chừng đó đủ biết mình mua trúng hay trật.
Còn cái khói khét bốc lên giữa buổi nướng thì phần lớn không sinh ra từ cục than. Nó sinh ra ở đúng chỗ giọt mỡ rơi xuống mặt than đỏ, mà chỗ đó thì đổi than không chữa được. Mấy cái lò tách khói của tiệm tui đi thẳng vô chỗ đó, mà mỗi dòng lò làm một kiểu khác nhau. Riêng dòng 65L, 80L và 125L thì hai hộc than nằm dọc mép trước với mép sau, vỉ kê cao sát miệng lò, giữa vỉ chừa một khe có khay hứng, nên giọt mỡ rơi xuống khay chớ không chạm mặt than, và phần khói sinh ra từ chỗ đó ít hẳn đi.
Chọn than là chọn cái nền cho buổi nướng, nền lâu hay nền gắt, nền đều hay nền lộn xộn. Còn miếng thịt thơm hay khét thì tính ở chỗ giọt mỡ rơi xuống đâu.
Nguồn tham khảo
1. Thanh Niên, "Giữa rừng ngập mặn Cà Mau, nghề hầm than trăm năm vẫn đỏ lửa", Gia Bách, 04/03/2026. Giá 10.000 tới 14.000 đồng một ký là con số bài nêu chung, bài không nói rõ bán sỉ hay bán lẻ.
2. FAO, "Industrial Charcoal Making" (FAO Forestry Paper 63), Rome, 1985, chương 2. Hiệu suất tính trên gỗ sấy khô kiệt.
3. Gouvernement général de l'Indochine, Institut des recherches agronomiques et forestières de l'Indochine, "Charbons de bois et gazogènes en Indochine", Hà Nội, Imprimerie d'Extrême-Orient, 1939. Bản số hoá Gallica, ark:/12148/bpt6k1308784g. Bảng của ông Maurand in trơ chữ "calories", không kèm đơn vị khối lượng, nên hai con số 6.776 và 5.659 chỉ so được với nhau. Phép thử đặt than lên bếp hồng nằm ở chú thích chân trang 52; đoạn độ ẩm thay đổi theo người bán ở trang 11.
4. 斎藤勝 (1993), "たかが木炭 されど木炭(2)", 林産試だより số tháng 11, 北海道立林産試験場. Chi tiết thợ rèn Nhật rèn kiếm bằng than thông lấy từ mục hỏi đáp Q29 của 全国燃料協会, và hai nguồn này nhiều khả năng cùng một mạch kiến thức ngành chớ không độc lập.
5. 一般社団法人全国燃料協会, Hiệp hội Nhiên liệu Toàn quốc Nhật Bản, mục hỏi đáp về than gỗ, zen-nen.or.jp. Đây là hỏi đáp của hiệp hội ngành, không phải điều khoản trong tiêu chuẩn.
6. Hou D., Chan H.T. (1997), "Rhizophora apiculata Blume", trong "Plant Resources of South-East Asia No 11: Auxiliary plants", PROSEA Foundation, Bogor.
7. An Hà nhựt báo (Cần Thơ) số 790, ngày 5/1/1933, mục "Gia đình tiết kiệm, nem chay và thịt nướng", ký Thanh Lương. Kho báo chí số hoá của Thư viện Quốc gia Việt Nam, mã WHht19330105.2.6. Đây là mục dạy làm đồ chay, "thịt nướng" trong bài là thịt giả bằng cùi mít. Câu trích chép theo bản số hoá.
8. Huình Tịnh Paulus Của, "Đại Nam quấc âm tự vị", Sài Gòn, Imprimerie Rey, Curiol & Cie, cuốn II, phần M tới X, in năm 1896, trang 362, mục Than.
9. Nhân Dân, Hữu Tùng, "Chợ tràm miệt rừng U Minh", 30/4/2025.
10. 和歌山県林業試験場 特用林産部, 加藤万季・岡田和久, "広葉樹白炭の製炭及び燃焼特性", năm nghiên cứu 2005. Báo cáo tự ghi rõ mỗi loài chỉ hầm từ một tới ba mẻ.
11. 兵道健太・藤井義久 (2016), "燃料としての木炭の品質評価に関する考察", 森林研究 79:43-53, DOI 10.60409/forestresearch.79.0_43. Mỗi loại chỉ đo năm cục.
12. 「燃料用木炭の規格」, Quy cách than gỗ dùng làm nhiên liệu, 社団法人全国燃料協会, tháng 3 năm 2011. Đây là quy cách của hiệp hội ngành, không phải tiêu chuẩn nhà nước Nhật Bản; bản gốc ghi trơ "6.800 kcal" và "7.000 kcal", không kèm đơn vị khối lượng. Phần ghi nhãn năm mục nằm ở mục 4.
13. 梅原勝雄 (1994), "木炭の遠赤外線の利用", 林産試場報 8(2):13-16, 北海道立林産試験場. Con số 300 tới 400°C và 700°C nằm ở phần bàn luận, là hiểu biết nghề mà tác giả nêu ra chớ không phải phép đo trong bài.
14. Sở Y tế Hà Tĩnh, "Cảnh báo ngộ độc khí CO khi đốt than sưởi ấm trong nhà", đăng 17/12/2024.
15. Ahmad R.K., Sulaiman S.A. (2021), "Carbonization of Coconut Shell Biomass in a Downdraft Reactor: Effect of Temperature on the Charcoal Properties", Sains Malaysiana 50(12):3705-3717, DOI 10.17576/jsm-2021-5012-20.
16. Hoàng Thị Huyền Bích, Trịnh Văn Tuyên, Đặng Thị Thùy Nguyên, Phạm Quang Huy, Viện Công nghệ Môi trường, "Nghiên cứu một số yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng than mùn cưa", Tạp chí Môi trường, 2017. Địa chỉ gốc của bài nay đã hỏng, phần dùng ở đây là mấy điểm lõi còn kiểm lại được.
17. Thông báo lựa chọn tổ chức đấu giá lâm sản khai thác năm 2025 của Ban Quản lý rừng phòng hộ Đất Mũi, tháng 5/2025, bản đăng trên cổng tỉnh Cà Mau không ghi số hiệu. Khớp với VOV, "Tìm đầu ra cho cây đước, ngành hàng chủ lực của Cà Mau", 19/7/2021.
18. Huynh T.T.H., Tongkhao K., Hengniran P., Vangnai K. (2023), "Assessment of high-temperature refined charcoal to improve the safety of grilled meat through the reduction of carcinogenic PAHs", Journal of Food Protection 86(12):100179, DOI 10.1016/j.jfp.2023.100179.
19. Park S.H., Jang J.H., Wistara N.J., Febrianto F., Lee M. (2019), "Fuel Properties of Indonesian Bamboo Carbonized at Different Temperatures", BioResources 14(2):4224-4235.
20. EN 1860-2:2005 (E), "Appliances, solid fuels and firelighters for barbecuing, Part 2", CEN/TC 281. Bản đang hiệu lực là EN 1860-2:2023, giữ nguyên ba ngưỡng cốt lõi của than cục; phần ngưỡng cho than nén và ngưỡng tro 8% ở đây dẫn theo bản 2005.
21. Babaoğlu A.S. (2023), "Assessing the Formation of Polycyclic Aromatic Hydrocarbons in Grilled Beef Steak and Beef Patty with Different Charcoals", Food Science of Animal Resources 43(5):826-839, DOI 10.5851/kosfa.2023.e38. Loại than ép đùn trong bài làm từ gỗ dẻ gai trộn tinh bột và bari nitrat, xuất xứ Nga.
22. Jelonek Z., Drobniak A., Mastalerz M., Jelonek I. (2020), "Environmental implications of the quality of charcoal briquettes and lump charcoal used for grilling", Science of The Total Environment 747:141267, DOI 10.1016/j.scitotenv.2020.141267.
23. Mencarelli A., Greco R., Grigolato S. (2025), "Can the qualitative characteristics of commercial charcoal-based products affect combustion performance during grilling?", Biomass Conversion and Biorefinery 15(18):24995-25006, DOI 10.1007/s13399-025-06830-z.
24. 林野庁, Cục Lâm nghiệp thuộc Bộ Nông Lâm Ngư nghiệp Nhật Bản, 特用林産物の生産動向, mục than gỗ, số liệu năm Lệnh Hoà 6 tức 2024.
25. VnExpress, "Nghề làm than đước hơn 100 năm ở xứ Đất Mũi", 29/6/2024. Giá 8.000 tới 10.000 đồng một ký ở đây là giá bán sỉ.
26. Viện Tiêu chuẩn Chất lượng Việt Nam, cổng tra cứu tieuchuan.vsqi.gov.vn. Riêng than tre thì có bộ TCVN 14534-1, 14534-2 và 14534-3 năm 2025, công bố theo Quyết định 4545/QĐ-BKHCN ngày 30/12/2025.
27. Nghị định 37/2026/NĐ-CP ngày 23/01/2026 của Chính phủ, Điều 42 khoản 1 và Điều 45. Phụ lục I của nghị định không có nhóm hàng nào là than hay chất đốt rắn.
